Mật rỉ đường là gì? Vì sao được sử dụng để xử lý nước thải

Mật rỉ đường vẫn còn là một khái niệm khá xa lạ với nhiều người. Bài viết dưới đây chúng tôi sẽ cung cấp thêm thông tin cho các  bạn biết về sản phẩm này và lý do vì sao mà sản phẩm này lại được sử dụng trong xử lý nước thải

Tìm hiểu về mật rỉ đường

Mật rỉ đường hay còn gọi là rỉ đường. Đây là chất lỏng đặc sánh còn lại sau khi đã rút đường bằng phương pháp cô và kết tinh. Thành phần chính của rỉ mật đường chủ yếu là sucrose với một ít fructoza và glucoza.Cứ khoảng 100 tấn mía cây ép ra thì sẽ cho ra từ 3 – 4 tấn rỉ đường nguyên chất.

mat-ri-duong-1

Mật rỉ đường là chất lỏng đặc sánh còn lại sau khi đã rút đường bằng phương pháp cô và kết tinh

Ứng dụng của mật rỉ đường trong xử lý nước thải

Rỉ đường chính là nguồn dinh dưỡng bổ sung cho vi sinh trong quá trình xử lý hiếu khí tại các hệ thống xử lý nước thải công nghiệp nghèo dinh dưỡng.

Nó là nguồn cacbon hữu cơ lý tưởng, chứa khoảng 40% C, rẻ tiền, giàu cacbon, hoàn toàn không chứa nitơ. Nó rất dễ dàng thêm hệ thống bằng cách hòa với nước và tạt đều khắp bể.

mat-ri-duong-2

Ứng dụng của mật rỉ đường trong xử lý nước thải

Bên cạnh đó, chúng còn là nguồn cung cấp cacbon hữu cơ chủ yếu cho vi sinh vật trong các hệ thống xử lý nước thải có phương pháp xử lý sinh học.

Nếu sau khi nuôi cấy vi sinh, hệ thống xử lý nước thải chạy vận hành ổn định, ta chỉ cần thêm một lượng chế phẩm vi sinh xử lý nước thải và dinh dưỡng mật rỉ đường, để bổ sung cho vi sinh xử lý nước thải sống và phát triển.

Để tính được lượng rỉ đường tương đối chính xác cần bón cho hệ thống xử lý nước thải thì người vận hành cần đo lượng Ammonia tổng số và Nitrat (cùng với ước tính cho các Nitrogen sinh học còn lại – thông thường khoảng 50%) để có thể sử dụng lượng rỉ đường chính xác cho hệ thống xử lý nước thải.

Liều lượng sử dụng được xác định dựa vào hiện trạng hoạt động hệ thống, tình trạng bùn hoạt tính và tính toán cân đối theo tỷ lệ COD: N: P = 100: 5: 1

Lưu ý: Các chất dinh dưỡng trong nước thải bao gồm N và P. Trong đó: Hàm lượng Nitơ trong nước thải đầu vào được coi là đủ nếu tổng Nitơ (bao gồm Nitơ tự do, Nitơ – Amoni, Nitơ – Nitrit, Nitơ – Nitrat) trong nước đã xử lý là 1 – 2mg/l. Nếu cao hơn, nghĩa là hàm lượng Nitơ trong nước thải đã dư thừa thì cần chấm dứt việc bổ sung Nitơ từ ngoài (nếu có).

Rỉ đường thường có màu sẫm. Màu này khó bị phá huỷ trong quá trình lên men. Sau lên men chúng sẽ bám vào sinh khối vi sinh vật và bám vào sản phẩm. Việc tách màu ra khỏi sinh khối và sản phẩm thường rất tốn kém và rất khó khăn. Giữa hai loại mật rỉ, loại mật rỉ từ cây mía có màu sẫm hơn màu mật rỉ nhận từ sản xuất củ cải phải xử lý trước khi tiến hành quá trình lên men.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *